Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ thiếu điện trong bối cảnh nhu cầu ngày càng tăng. Nếu không xây dựng cơ chế hỗ trợ hiệu quả trong Luật Điện lực, các dự án sử dụng khí thiên nhiên và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) khó có thể triển khai thành công.
Cần cơ chế cam kết sản lượng điện hợp đồng tối thiểu

Theo Bộ Công Thương, Quy hoạch Điện VIII đặt mục tiêu đến năm 2030 tổng công suất nguồn điện đạt khoảng 150.000 MW, gần gấp đôi hiện tại, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và cải thiện đời sống người dân. Để đạt mục tiêu này, cần bổ sung mỗi năm hơn 10.000 MW nguồn điện mới, đồng thời thúc đẩy nguồn năng lượng sạch, ít phát thải.
Trong bối cảnh giảm dần nhiệt điện than, LNG trở thành nguồn năng lượng quan trọng giúp đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo. Quy hoạch Điện VIII đặt mục tiêu đến năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện khí đạt 30.424 MW, bao gồm 10 dự án sử dụng khí trong nước (7.900 MW) và 13 dự án sử dụng LNG (22.524 MW). Tuy nhiên, hiện nay chỉ có dự án Nhơn Trạch 3 và 4 (1.624 MW) đang được triển khai, còn lại gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong huy động vốn và ký kết hợp đồng mua bán nhiên liệu dài hạn do thiếu cơ chế cam kết sản lượng điện tối thiểu.
Dự thảo Luật Điện lực đã đề xuất các chính sách hỗ trợ như huy động tối đa dự án nhiệt điện sử dụng khí trong nước và phát triển điện LNG gắn với hạ tầng kho cảng để giảm chi phí sản xuất. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng cần cụ thể hóa hơn nữa các quy định này nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đồng thời xây dựng hệ thống pháp lý đồng bộ để đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng.
Phát triển điện khí LNG gắn với hạ tầng tập trung

Điện khí LNG cần phát triển theo chuỗi, gắn với các kho cảng LNG trung tâm và hệ thống đường ống dẫn khí, nhằm tối ưu hóa chi phí đầu tư, giảm giá thành điện và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Kho cảng LNG trung tâm với công suất lớn sẽ nâng cao khả năng dự trữ LNG, giảm thiểu tác động từ biến động thị trường quốc tế.
Thực tế, việc đầu tư phân tán theo mô hình “1 nhà máy điện - 1 kho cảng LNG” sẽ làm tăng chi phí và không tận dụng được hạ tầng sẵn có. Phát triển theo mô hình tập trung giúp đảm bảo hiệu quả kinh tế và cung cấp khí nhiên liệu sạch cho các khu công nghiệp dọc đường ống dẫn khí.
Cơ chế chuyển ngang giá khí và giải pháp tài chính
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đề xuất áp dụng cơ chế chuyển ngang giá khí sang giá điện, phản ánh đầy đủ chi phí đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh các mỏ khí hiện hữu đang suy giảm sản lượng và các nguồn khí mới nằm ở khu vực nước sâu, xa bờ, yêu cầu chi phí đầu tư cao.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật cần bổ sung quy định đảm bảo khả năng tiêu thụ sản lượng khí và xây dựng cơ chế để các nhà máy điện cam kết sản lượng và giá khí khi ký hợp đồng với PVN hoặc các chủ mỏ. Ngoài ra, cần mở rộng quy định miễn đấu thầu đối với các dự án nguồn điện mở rộng, không chỉ giới hạn ở thủy điện, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư.
Việc hoàn thiện các cơ chế và chính sách trong Luật Điện lực sửa đổi là yếu tố then chốt để thúc đẩy các dự án LNG, đảm bảo nguồn cung điện ổn định, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh năng lượng quốc gia.
>>>Xem thêm:
Giá dầu brent hôm nay
Giá dầu thế giới wti hôm nay




